Thành phần cấu tạo

THÀNH PHẦN

Femme-F Female Fertility có chứa các thành phần chiết xuất từ quả Vitex, các chất có tác dụng chống oxy hóa như chiết xuất Lá Trà xanh, Selenium, Vit E tự nhiên, Axit Folic, Vit C, Vit B6, Vit B12 và Zinc đã được khoa học chứng minh có tác dụng hỗ trợ sức khỏe sinh sản của phụ nữ, hỗ trợ quá trình rụng trứng, bảo vệ nang noãn làm tăng khả năng thụ thai; hỗ trợ quá trình hình thành thai, bảo vệ sự phát sinh phôi khỏi bị tác động của ô xy hóa, bảo vệ thai nhi trong thai kỳ đầu. Femme-F cung cấp 500mcg axit một ngày, nếu dùng đều hàng ngày một tháng trước khi sinh và trong giai đoạn có thai có thể bảo vệ thai nhi khỏi các dị tật ống thần kinh/nứt đốt sống. Nó còn làm giảm các triệu chứng, khó chịu do sự thay đổi hóc môn do kinh nguyệt và mãn kinh, và giúp điều tiết chu kỳ kinh nguyệt.

Quả Trinh Nữ (Chaste Berry hay Vitex agnus castus)

Quả Trinh Nữ (Chasteberry) có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, Trung Á, và Châu Mĩ, đã được công nhận là phương thuốc dân gian có các đặc tính có lợi cho phụ nữ từ trên 2,500 năm nay. Quả Trinh Nữ là loại dược thảo có tác dụng điều hòa hoóc môn và cân bằng chu kỳ kinh nguyệt rõ ràng nhất. Không những quả Trinh Nữ được biết đến với tác dụng cải thiện các triệu chứng tiền kinh nguyệt, mà quan trọng hơn, là tác dụng cải thiện chu kỳ kinh nguyệt. Vì phần lớn các bệnh có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản có liên quan đến những rối loạn rụng trứng và chu kỳ kinh nguyệt không đều, quả Trinh Nữ có vai trò quan trọng giúp cải thiện khả năng sinh sản. Cơ quan quản lý dược phẩm Đức (German Commission E) phê chuẩn việc sử dụng quả Trinh Nữ để điều trị chu kỳ kinh nguyệt không đều, đau quặn ở vú, và các hội chứng tiền kinh nguyệt (Blumenthal 2000), và được chỉ định rỗng rãi bởi các bác sĩ phụ khoa và các bác sĩ đa khoa gia đình ở Đức(Schilcher 1994).

Cơ chế tác dụng

Hoạt tính được nghiên cứu nhiều nhất của quả Trinh Nữ là hoạt tính dopaminergic trung tâm của nó. Bằng chứng trong ống nghiệm và cơ thể sống đều cho thấy quả Trinh Nữ liên kết các thụ thể D2 (Jarry, Leonhardt et al. 1994; Wuttke 1996), nhiều khả năng nhất là ở trong tuyến yên phía trước, để ức chế sự giải phóng prolactin. Mặc dù prolactin cần thiết cho sự sản sinh sữa ở giai đoạn cuối của thời kỳ mang thai, lượng prolactin quá nhiều trong giai đoạn thụ thai sẽ làm giảm khả năng sinh sản. Nghiên cứu cho thấy quả Trinh Nữ có tác dụng ức chế sự giải phóng prolactin do hoóc môn kích thích giải phóng cơ sở và hướng giáp tố (thyrotropin) (Jarry, Leonhardt et al. 1994), nhiều khả năng nhất thông qua cơ chế liên kết các thụ thể D2 ở trong tuyến yên đã nêu ở trên. Những tác dụng này của quả Trinh Nữ có tác dụng tích cực giúp điều hòa kiểm soát giải phóng hoóc môn buồng trứng-tuyến yên-dưới đồi, hỗ trợ sự rụng trứng, và kích thích sinh sản.

Quả Trinh Nữ tăng cường các tác dụng của progesterone và phục hồi sự thiếu hụt progesterone (Bone 1994),mặc dù cơ chế của nó vẫn chưa được hiểu một cách triệt để. Điều này giải thích tác dụng làm ổn định giai đoạn hoàng thể trong chu kỳ kinh nguyệtcủa quả Trinh Nữ. Ngoài ra, quả Trinh Nữ còn có tác dụng chống động dục, như giảm nhẹ chứng đau vú, được cho là tác dụng điều hòa của các phytoestrogens (Liu, Burdette et al. 2001).

Nghiên cứu lâm sàng

Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy quả Trinh Nữ có tác dụng giảm cáctriệu chứng đau liên quan đến hội chứng tiền kinh nguyệt. Kết quả một số nghiên cứu mù đôi ngẫu nhiên có đối chứng giả dược (Schellenberg 2001),cho thấy quả Trinh Nữ cải thiện đáng kể các triệu chứng khó chịu, thay đổi tâm trạng, nóng giận, và đau đầu ở những phụ nữ dùng thuốc so với nhóm phụ nữ dùng giả dược. Các nghiên cứu cũng cho thấy quả Trinh Nữ có tác dụng giảm nhẹ các triệu chứng phổ biến ở phụ nữ như trương nở, phù nề, và đau vú nói chung (mềm vú), là các bằng chứng về ích lợi của quả Trinh Nữ đối với việc điều hòa các mức hoóc môn trước và trong thời kỳ kinh nguyệt.

Trong một nghiên cứu mù đôi ngẫu nhiên có đối chứng giả dược có sự tham gia của 52 phụ nữ bịkhiếm khuyết ở giai đoạn hoàng thểhoá, sử dụng liều 20mg quả Trinh Nữ/ngày trong 3 tháng, đã cho kết quả làm giảm các mức giải phóng prolactin, ổn định giai đoạn hoàng thể, cải thiện sự tổng hợp hoóc môn progesterone, và tăng cường estradiol trong giai đoạn hoàng thể. Trong 3 tháng điều trị, hai phụ nữ sử dụng quả Trinh Nữ đã thụ thai (Milewicz, Gejdel et al. 1993). Không có tác dụng phụ nào của quả Trinh Nữ được ghi nhận.

Hai nghiên cứu sử dụng chế phẩm homeopathic có thành phần quả Trinh Nữ đã cho kết quả tích cực. Một nghiên cứu mù đôi ngẫu nhiên có đối chứng giả dược, sử dụng một chế phẩm tên là Mastodynon có chứa quả Trinh Nữ, cho kết quả tỷ lệ thụ thai ở nhóm điều trị cao hơn gấp hai lần so với tỷ lệ này ở nhóm sử dụng giả dược. Trong 96 phụ nữ tham gia vào nghiên cứu, 38 người bị vô kinh thứ phát, 31 người bị thiểu năng hoàng thể, và 27 người bị vô sinh tự phát (Gerhard, Patek et al. 1998). Trong một nghiên cứu có sử dụng giả dược ngẫu nhiên có kiểm soát,một chế phẩm khác có chứa quả Trinh Nữ với liều lượng không xác định đã có tác dụng cải thiện các mức hoóc môn progesterone trong giai đoạn hoàng thể, rút ngắn chu kỳ một cách hiệu quả. Trong quá trình nghiên cứu kéo dài 3 tháng, nhóm những phụ nữ bị chứng ít kinh nguyệt đã có sự cải thiện đáng kể về số trường hợp mang thai (82 so với 45%, p = 0.021) (Bergmann, Luft et al. 2000). Những nghiên cứu này cho thấy tác dụng của thuốc bắt đầu sau 3 tháng điều trị.

Một nghiên cứu mù đôi ngẫu nhiên có đối chứng giả dược gần đây sửdụng một sản phẩm có chứa quả Trinh Nữ (Fertilityblend) đã cho kết quả số trường hợp mang thai sau 5 tháng điều trị ở nhóm điều trị tăng đáng kể so với ở nhóm sử dụng giả dược (5 so với 0, p<0.01). Nghiên cứu có sự tham gia của 30 phụ nữ là những người đã cố gắng mang thai không thành công trong vòng 6 tháng, hoặc lâu hơn nữa, cũng cho thấy nhóm điều trị có xu hướng tăng mức hoóc môn progesterone giữa giai đoạn hoàng thể (Westphal, Polan et al. 2004). Một nghiên cứu tiếp theo (Westphal, Polan et al. 2006)với FertilityBlend, có sự tham gia của 93 phụ nữ là những người đã cố gắng mang thai không thành công trong vòng 6 tháng hoặc lâu hơn, cho thấyFertilityBlend có chứa quả Trinh nữ làm tăng thời gian chu kỳ ở phụ nữ bị ngắn chu kỳ, và giảm thời gian chu kỳ ở phụ nữ có chu kỳ dài. Tiếp đó, có hiện tượng tăng tỷ lệ mang thai một cách đáng kể ở nhóm điều trị so với nhóm dùng thuốc giả (17 so với 4, p<0.01). Không có tác dụng phụ đáng kể nào được ghi nhận.

Có một số nghiên cứu mở không kiểm soát kiểm tra tác dụng của quả Trinh Nữ đối với khả năng sinh sản cũng đã cho kết quả tích cực (Gorkow, Wuttke et al. 2002). Một nghiên cứu có 45 phụ nữ bị khiếm khuyết ở giai đoạn hoàng thể hóa cho thấy quả Trinh Nữ có tỷ lệ thành công là 87%, trong đó 15% đã mang thai (Propping D 1988). Một nghiên cứu khác đạt được 29% tỷ lệ mang thai trong 120 phụ nữ bi rối loạn kinh nguyệt thể kinh mau/đa kinh (n=25), bị kinh thưa (n=44), và bị thiểu năng hoàng thể thể vân (n=44).  Thêm vào đó, 63% chu kỳ được bình thường hóa (Bubenzer 1993). Thông tin của những nghiên cứu này được lấy từ các nguồn tin thứ hai (Standard 2009).

Kết luận: Quả Trinh Nữ đã được sử dụng một cách truyền thống trên 2,500 năm để điều tiết hoóc môn ở phụ nữ. Những nghiên cứu lâm sàng gần đây cho thấy quả Trinh Nữ có tác dụng cải thiện giai đoạn hoàng thể, và các mức hoóc môn progesterone, cụ thể là ở phụ nữ bị khiếm khuyết ở giai đoạn hoàng thể hóa. Quan trọng hơn cả, trong các nghiên cứu lâm sàng, quả Trinh Nữ có thể giảm mức prolactin, là yếu tố liên quan đến hiện tượng tăng tỷ lệ mang thai ở những phụ nữ có vấn đề về khả năng sinh sản.

Chất chống ôxy hóa

Vai trò của các chất chống ôxy hóa đối với sức khỏe và bệnh tật không thể bị đánh giá thấp, vì các chủng ôxy gây phản ứng có liên quan đến nhiều trường hợp gây bệnh. Các chất chống ôxy hóa đóng một vai trò thiết yếu trong việc thụ thai, và khả năng sinh sản. Các tài liệu gần đây cho thấy những sự thay đổi ở điều kiện môi trường và cách sống, dẫn đến việc hấp thụ các chất chống ôxy hóa bị ít đi, có thể là một nguyên nhân đáng kể củahiện tượng giảm khả năng sinh sản trong xã hội (Ruder, Hartman et al. 2008). Các tác dụng có lợi của các chất chống ôxy hóa đối với khả năng sinh sản của nam giới đã được biết đến từ lâu nay, giúp tăng số lượng tinh trùng và khả năng thâm nhập trứng của tinh trùng.

Sự sản sinh các giao tử nữ (ova) bởi sự phân bào có tơ xảy ra trong những năm trước khi sinh nở. Vào lúc sinh nở, chúng bị giữ lại trong tiền kỳ phân bào của quá trình phân bào giảm miễn I và tồn tại như những noãn bào nguyên thủy cho đến lần hành kinh đầu tiên hoặc cho đến khi rụng trứng lần đầu ở tuổi dậy thì. Trong quá trình phát triển của noãn bào nguyên thủy trở thành noãn bào thứ cấp, và ngay sau khi được thụ tinh thành hợp tử, sự hiện diện của các chủng ôxy gây phản ứng có thể phá vỡ hoặc làm sai trệch quá trình này. Một mức phù hợp các chất chống ôxy hóa trong buồng trứng có thể ức chế các chủng ôxy gây phản ứng, giúp hình thành noãn bào khỏe mạnh, và sau đó là hợp tử sau khi được thụ tinh, phát triển bình thường(Miesel, Drzejczak et al. 1993).

Khi chúng ta già đi, khả năng của cơ thể tự bảo vệ chống lại các gốc ôxy tự do bị giảm đi.  Điều tương tự cũng xảy ra đối với sức khỏe buồng trứng của phụ nữ, và sự phát triển của nang trước khi chúng bị giảm đi ở thời kỳ mãn kinh. Do đó, việc bổ sung các chất chống ôxy hóa có thể giảm những ảnh hưởng của tuổi tác và bảo vệ cho sự phát triển bình thường của nang.

Các chất chống ôxy hóa có thể đóng một vai trò lớn hơn trong việc bảo vệ một hợp tử có khả năng sống sót, và khả năng sinh sản nói chung. Rất nhiều bệnh có thể làm mất khả năng sinh sản ở cả nữ và nam giới. Các chủng ôxy gây phản ứng có liên quan đến một loạt các bệnh có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản ở nữ giới như tràn dịch noãn quản (tích dịch vòi Fallope), bệnh lạc nội mạc tử cung, hội chứng đa u nang buồng trứng, và rất nhiều trường hợp vô sinh tự phát. Các chất chống ôxy hóa có thể cung cấp sự hỗ trợ cần thiết để cơ quan sinh sản có thể có được khả năng sinh sản tối ưu. Người ta tin rằng sử dụng kết hợp các chất chống ôxy hóa sẽ cho kết quả tốt hơn là sử dụng chúng riêng rẽ vì các chất này bảo vệ lẫn nhau khỏi sự ôxy hóa (Haas 1992). Điều này cũng loại trừ nhu cầu cho những liều lớn từng đơn chất của từng thành phần dưỡng chất mà do đó có thể gây tác hại.

Thành phần trong nhóm này: trà xanh, selenium, vitamin E, vitamin C, axit Folic, vitamin B3, và Kẽm.

Trà xanh

Việc sử dụng truyền thống của cây trà xanh đã bắt đầu từ 5,000 năm trước ở Trung Quốc. Thế giới phương Tây đã công nhận những tác dụng có lợi đối với sức khỏe của trà xanh. Trà xanh có chứa hàm lượng các chất chống ôxy hóa cao hơn 6 lần so với trà đen (Serafini, Ghiselli et al. 1996), và được cho là có tác dụng làm chậm quá trình lão hóa. Các thành phần hoạt tính trong trà xanh là các polyphenols. Các polyphenols chính có mặt trong trà xanh là các flavonoids như catechin, epicatechin, epicatechin gallate, epigallocatechin, epigallocatechin-gallate và proanthocyanidins. Trà xanh cũng chứa các chất chống ôxy hóa Vitamin E và C.

Cơ chế hoạt động

Tiềm năng chống ôxy hóa của trà xanh là một điều quan trọng đối với việc cải thiện khả năng sinh sản. Epigallocatechin-gallate (EGCG) là chất chống ôxy hóa mạnh nhất trong số các chất chống ôxy hóa có mặt trong trà xanh. Khi sử dụng qua đường uống, trà xanh tăng cường đáng kể mức các chất chống ôxy hóa trong huyết thanh (Leenen, Roodenburg et al. 2000; Erba, Riso et al. 2005), do đó kích thích glutathione peroxidase và catalase, tạo tác dụng bảo vệ chống ôxy hóa. Một số catechin trong trà xanh có tác dụng mạnh hơn Vitamin C 100 lần và mạnh hơn vitamin E 25 lần (Khalsa 1999).

Nghiên cứu lâm sàng

Một nghiên cứu điều tra ảnh hưởng của các loại đồ uống có chứa caffeine đối với tỷ lệ sinh sản, cho thấy trà xanh làm tăng tỷ lệ sinh sản gấp hai lần (Caan, Quesenberry et al. 1998).Vì sử dụng các loại đồ uống có chứa caffeine khác như cà phê có tác dụng không tốt đến khả năng sinh sản, người ta cho rằng một thành phần khác trong trà xanh có ích lợi đối khả năng sinh sản. Một xanthine khác là hypoxanthine, được cho là nhân tố có tác dụng tăng cường khả năng sinh sản trong một dẫn chứng khác (1991). Tác dụng của chất chống ôxy hóa EGCG trong trà xanh đối với khả năng sinh sản vẫn chưa được nghiên cứu.

Lợi ích của trà xanh đối với khả năng sinh sản, và sức khỏe ở nữ giới vẫn chưa được nghiên cứu độc lập và sâu rộng. Tuy nhiên, hai nghiên cứu sử dụng FertilityBlend có chứa trà xanh đã cho kết quả tích cực. Nghiên cứu thứ nhất trong hai nghiên cứu mù đôi ngẫu nhiên có đối chứng giả dược cho thấy FertilityBlend có chứa trà xanh cho kết quả sau 5 tháng điều trị số người mang thai ở nhóm điều trị cao hơn hẳn so với ở nhóm sử dụng giả dược (5 so với 0, p<0.01).  Lần nghiên cứu có sự tham gia của 30 phụ nữ là những người đã cố gắng mang thai không thành công trong vòng 6 tháng, hoặc lâu hơn cũng cho thấy nhóm điều trị có xu hướng tăng hoóc môn progesterone ở giữa kỳ hoàng thể (Westphal, Polan et al. 2004). Một nghiên cứu tiếp theo (Westphal, Polan et al. 2006)với FertilityBlend có sự tham gia của 93 phụ nữ, là những người đã cố gắng mang thai không thành công trong vòng 6 tháng hoặc lâu hơn, cho thấy FertilityBlend có chứa trà xanh làm tăng thời gian chu kỳ ở phụ nữ bị ngắn chu kỳ, và giảm thời gian chu kỳ ở phụ nữ có chu kỳ dài. Tiếp đó, có hiện tượng tăng tỷ lệ mang thai một cách đáng kể ở nhóm điều trị so với nhóm dùng thuốc giả (17 so với 4, p<0.01). Không có tác dụng phụ đáng kể nào được ghi nhận.

Kết luận: Lợi ích của trà xanh đối với sức khỏe đã được biết đến từ lâu nay, và trà xanh đã được sử dụng ở Trung Quốc từ hơn 5,000 năm nay. Đối với sức khỏe sinh sản ở nữ giới, trà xanh có tác dụng bảo vệ chống ôxy hóa đáng kể, giúp cơ thể chống lại stress ôxy hóa có liên quan đến sự sản sinh nang trội và thụ tính sớm. Vì những lý trên, người ta tin rằng trà xanh có thể giúp tăng cường sức khỏe sinh sản ở nữ giới.

 

Selenium

Selenium là một chất chống ôxy hóa tự nhiên trong nội tạng, cá, động vật có vỏ, và ngũ cốc. Selenium cũng có mặt trong cây cối ở mức độ khác nhau tùy thuộc vào thành phần của đất. Không những Selenium là chất chống ôxy hóa mạnh, thành phần này cũng có tác dụng hỗ trợ ngăn ngừa nhiễm khuẩn, và cần thiết cho quá trình tăng trưởng và phát triển bình thường.  Thiếu hụt Selenium sẽ dẫn đến đau cơ, yếu cơ, và phát triển của suy tim sung huyết.

Cơ chế tác dụng

Selenium kết hợp glutathione peroxidase và thioredoxin reductase, hai trong số những enzyme quan trọng nhất giúp điều hòa các mức các chủng ôxy gây phản ứng. Do đó, Selenium làm cho các enzyme này có khả năng của chất chống ôxy hóa mạnh, giúp bảo vệ chống lại các chủng ôxy gây phản ứng. Người ta tin rằng Selenium có thể bảo vệ chống lại stress ôxy hóa trên các phôi đang phát triển và hợp tử thụ tinh, cũng như bắt đầu thai nghén.

Nghiên cứu lâm sàng

Có một số kết quả khả quan từ nghiên cứu trong ống nghiệm và từ các bằng chứng thí nghiệm. Trường hợp vô sinh không rõ nguyên nhân có mối liên hệ với hiện tượng giảm đáng kể lượng Selenium tìm thấy trong nang chất lỏng (Paszkowski, Traub et al. 1995). Một nghiên cứu trong ống nghiệm cho thấy Selenium tăng sự sinh sôi phát triển của tế bào granulose bò trong nang đang phát triển (Basini and Tamanini 2000).Bằng chứng nghiên cứu rõ ràng nhất về tác dụng của Selenium trong thời kỳ thụ thai và mang thai là ảnh hưởng của việc bị xảy thai, đặc biệt là trong kỳ ba tháng đầu tiên. Một nghiên cứu cho thấy có hiện tượng giảm đáng kể mức Selenium trong huyết thanh của những phụ nữ bị xảy thai trong giai kỳ ba tháng đầu tiên so với những phụ nữ giữ được thai tới thời hạn (Barrington, Lindsay et al. 1996; Barrington, Taylor et al. 1997; Rayman 2000). Những nghiên cứu này cho thấy tác dụng chống ôxy hóa của Selenium có lợi ích cho khả năng sinh sản và duy trì bào thai sống.

Hai nghiên cứu sử dụng FertilityBlend chứa 70mcg Selenium đã cho kết quả tích cực đối với khả năng sinh sản. Nghiên cứu thứ nhất trong các nghiên cứu mù đôi ngẫu nhiên có đối chứng giả dược cho thấy FertilityBlend có chứa selenium cho kết quả số người mang thai cao hơn sau 5 tháng sử dụng so với nhóm sử dụng giả dược (5 so với 0, p<0.01).  Lần nghiên cứu này có sự tham gia của 30 phụ nữ những người đã cố gắng mang thai không thành công trong vòng 6 tháng hoặc lâu hơn cũng cho thấy nhóm điều trị có xu hướng tăng hoóc môn progesterone ở giữa kỳ hoàng thể (Westphal, Polan et al. 2004).Nghiên cứu tiếp theo (Westphal, Polan et al. 2006)với FertilityBlend có sự tham gia của 93 phụ nữ là những người đã cố gắng mang thai không thành công trong vòng 6 tháng hoặc lâu hơn, cho thấy FertilityBlend có chứa selenium làm tăng thời gian chu kỳ ở phụ nữ bị ngắn chu kỳ, và giảm thời gian chu kỳ ở phụ nữ có chu kỳ dài. Thêm vào đó, nhóm điều trị đã có tỷ lệ mang thai tăng lên đáng kể so với nhóm sử dụng thuốc giả (17 so với 4, p<0.01). Không có tác dụng phụ đáng kể nào được ghi nhận.

Kết luận: Selenium là một chất chống ôxy hóa mạnh cần thiết cho cơ thể để trung hòa các chủng ôxy gây phản ứng là các tác nhân có thể làm hỏng quá trình phát triển của tế bào trứng nguyên thủy và thứ cấp, và một khi thụ tinh là các hợp tử phát triển.

Vitamin E

Vitamin E là tên của một nhóm các chất có các hoạt động tương tự, đa số được gộp lại là nhóm tocopherols, mà trong đó alpha tocopherols là thành phần có tác dụng mạnh nhất. Vitamin E là một vitamin chống ôxy hóa tự nhiên tan được trong chất béo, và có thể tìm thấy trong thức ăn như dầu ăn tự nhiên, quả hạch, xoài, và súp lơ. Thiếu Vitamin E, mặc dù không phổ biến, dẫn đến rối loạn thần kinh như suy thoái thần kinh ngoại biên ở tay, và chân. Quan trọng hơn thế, đối với sức khỏe sinh sản, Vitamin E có tác dụng bảo vệ chống ôxy hóa ở các nang và phôi đang phát triển.

Cơ chế hoạt động

Các chủng ôxy gây phản ứng ức chế sự tổng hợp steroid trong buồng trứng, làm giảm lượng estrogen được sản sinh. Các chất chống ôxy hóa như Vitamin E có thể làm phục hồi quá trình này và kích thích tổng hợp steroid (Cigliano, Balestrieri et al. 2002). Ở các mẫu động vật bị thiếu Vitamin E, có hiện tượng sự phát triển của dạ con bị ức chế (Das and Chowdhury 1999). Vitamin E và các loại chất chống ôxy hóa khác có vai trò quan trọng giúp làm sạch các chủng ôxy gây phản ứng giải phóng bởi hoàng thể thể vân và, các nang suy thoái khác khi chúng trải qua cơ chế chết tế bào theo chương trình (Aten, Kolodecik et al. 1994). Vitamin E cũng giúp tăng số lượng các nang nguyên sơ bình thường từ các nang đang được phát triển (Tarin, Perez-Albala et al. 2002). Ngoài ra, Vitamin E còn có vai trò bảo vệ quan trọng trong quá trình cấy và tổng hợp phôi (Jishage, Arita et al. 2001).

Nghiên cứu lâm sàng

Hai nghiên cứu sử dụng FertilityBlend chứa 150IU Vitamin E đã cho kết quả tích cực đối với khả năng sinh sản. Nghiên cứu thứ nhất trong các nghiên cứu mù đôi ngẫu nhiên có đối chứng giả dược cho kết quả nhóm điều trị sử dụng FertilityBlend có chứa Vitamin E có số người mang thai cao hơn so với nhóm sử dụng giả dược, sau 5 tháng điều trị (5 so với 0, p<0.01). Nghiên cứu có sự tham gia của 30 phụ nữ là những người đã cố gắng mang thai không thành công trong vòng 6 tháng hoặc lâu hơn cũng cho thấy nhóm sử dụng thuốc có xu hướng tăng hoóc môn progesterone ở giữa kỳ hoàng thể(Westphal, Polan et al. 2004). Một nghiên cứu tiếp theo (Westphal, Polan et al. 2006)với FertilityBlend có sự tham gia của 93 phụ nữ là những người đã cố gắng mang thai không thành công trong vòng 6 tháng hoặc lâu hơn, cho thấy FertilityBlend có chứa Vitamin E làm tăng thời gian chu kỳ ở phụ nữ bị ngắn chu kỳ, và giảm thời gian chu kỳ ở phụ nữ có chu kỳ dài. Tiếp đó, nhóm điều trị có tỷ lệ mang thai tăng lên đáng kể so với nhóm dùng giả dược (17 so với 4, p<0.01). Không có tác dụng phụ đáng kể nào được ghi nhận.

Liên quan đến quá trình hành kinh ở phụ nữ, trong một nghiên cứu mù đôi ngẫu nhiên có đối chứng giả dược, liều 200IU vitamin E giúp giảm đau đáng kể, và giảm lượng máu mất ở phụ nữ bị chứng thống kinh (Ziaei, Zakeri et al. 2005). Trong một nghiên cứu mù đôi ngẫu nhiên có đối chứng giả dược khác, liều 400 IU Vitamin E cải thiện đáng kể các triệu chứng tiền kinh nguyệt ở phụ nữ bị những triệu chứng này (London, Murphy et al. 1987).

Kết luận: Đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra lợi ích của Vitamin E đối với hệ thống sinh sản ở nữ giới. Vitamin E là chất chống ôxy hóa mạnh với tác dụng trực tiếp giúp bảo vệ buồng trứng chống lại stress ôxy hóa. Đối với khả năng sinh sản ở nữ giới, Vitamin E là nhân tố quan trọng cho sự thụ thai và duy trì thai trong thời kỳ đầu mang thai.

Vitamin C

Vai trò của Vitamin C đối với khả năng sinh sản đã được biết đến từ trước đây, và có thể có ý nghĩa quan trọng trong tiến hóa (Millar 1992). Vitamin C, còn gọi là axit Ascorbic, là một Vitamin thiết yếu cần phải có trong chế độ ăn, là nhân tố trực tiếp tham gia vào sự bài tiết hoóc môn, sản xuất giao tử, và tổ chức lại buồng trứng. Tiềm năng chống ôxy hóa của Vitamin C có liên hệ mật thiết đến chức năng buồng trứng ở nữ giới vì nó tham gia vào quá trình ôxy hóa hỗn hợp chức năng, kết hợp các khí ôxy vô hại vào các chất nền (Sebrell 1967), nhiều khả năng tham gia vào sự trưởng thành của nang buồng trứng.

 

Cơ chế hoạt động

Vitamin C đặc biệt tập trung nhiều ở các cơ quan nội tiết như buồng trứng (Chinoy 1972), có tầm quan trọng lớn đối với sự tổng hợp hoóc môn. Thứ nhất, sự tổng hợp hoóc môn oxytocin và hoóc môn giãn niệu (vasopressin) cần Vitamin C cho quá trình sản sinh amit hậu dịch mã (Eipper and Mains 1991). Ngoài ra sự tổng hợp steroid trong buồng trứng cần Vitamin C, cụ thể là cho sự sản sinh hoóc môn progesterone (Byrd, Pardue et al. 1993). Vitamin C là không thể thiếu được đối với quá trình rụng trứng vì các mức Vitamin C cao duy trì trong thời kỳ này có liên quan đến hiện tượng tăng LH và nhiệt độ (Loh and Wilson 1971). Vì vitamin C được tích cực hấp thụ bởi nang trong quá trình rụng trứng (Aten, Duarte et al. 1992), Vitamin C rất quan trọng các giai đoạn cuối của việc mở rộng nang long và sự sản sinh steroid sau rụng trứng của hoóc môn progesterone.

Một vai trò quan trọng của vitamin C là sinh tổng hợp collagen bên trong buồng trứng. Vitamin C tham gia như là một đồng yếu tố trong các enzyme quan trọng mà hydroxylate proline dư lượng và lysine trong nguồn gốc sau dịch mã của pro-collagen, cho phép pro-collagen hình thành hình dáng ba xoáy chôn ốc của nó (Pinnell 1985). Tốc độ tổng hợp collagen cao xảy ra trong buồng trứng trong chu kỳ nang-hoàng thể cho sự tăng trưởng nang và phát triển hoàng thể đòi hỏi vitamin C (Luck and Zhao 1993).

Nghiên cứu lâm sàng

Một nghiên cứu cứu mù đôi ngẫu nhiên có đối chứng giả dược (Henmi, Endo et al. 2003)với sự tham gia của 150 phụ nữ bị khiếm khuyết ở giai đoạn hoàng thể hóa, được chia thành nhóm giả dược, và nhóm thử nghiệm với liều điều trị 750mg vitamin C mỗi ngày trong vòng tối đa là 6 tháng. Các mức progesterone tăng lên trong 53% phụ nữ trong nhóm điều trị bằng vitamin C, nhiều hơn đáng kể so với mức 23% ở nhóm giả dược, tương ứng với một sự điều chỉnh của các khuyết tật giai đoạn hoàng thể. Hiện tượng tăng đáng kể mức estrogen cũng được phát hiện ở nhóm điều trị vitamin C. Quan trọng hơn cả, 19 phụ nữ trong nhóm điều trị vitamin C đã thụ thai (25%) so với 5 trong nhóm điều trị giả dược (11%, p <0,05).

Trong một nghiên cứu trước đó (Igarashi 1977), liều điều trị 400mg Vitamin C/ngày cho thấy tác dụng làm tăng clomiphene gây rụng trứng, và gia tăng tỉ lệ mang thai. Các nhà nghiên cứu cho răng vai trò của vitamin C là ở mối quan hệ của nó với buồng trứng.

Kết luận: Giá trị của vitamin C đối với khả năng sinh sảnvà thụ thaiở nữ giới đã được biết đến trong một thời gian. Vitamin C tham gia vào quát trình tổng hợp steroid trong tuyến yên và buồng trứng, có hoạt tính chống ôxy hóa mạnh,giúp bảo vệ các nang phát triển, và có vai trò quan trọng trong việc sản xuất collagen để duy trì các nang và hoàng thể. Các nghiên cứu lâm sàng cũng hỗ trợ việc sử dụng Vitamin C để bồi bổ khả năng sinh sản.

Axit Folic

Kể từ khi các tác dụng bảo vệ và ngăn ngừa khuyết tật ống thần kinhcủa axit folic được phát hiện, phụ nữ có ý định mang thai được khuyến cáo nên uống bổ sung axit folic. Nhu cầu về axit folic tăng gấp đôi trong lúc mang thai, cho thấy tầm quan trọng của axit folic trong việc tổng hợp DNA, và sửa chữa phôi thai đang phát triển.

Cơ chế hoạt động

Chức năng chuyển hóa chính của axit folic nằm ở trong quá trình sinh tổng hợp purine và thymidylate, cần thiết cho các tế bào phân chia nhanh chóng như các noãn bào. Một nghiên cứu điều tra các tác dụng của axit folic và homocysteine đối với sự phát triển của noãn bào cho thấy axit folic cải thiện chất lượng và sự trưởng thành của các noãn bào so với ở những phụ nữ không được bổ sung acid Folic (Szymanski and Kazdepka-Zieminska 2003). Sự tổng hợp phôi cũng rất quan trọng khi xem xét axit folic, vì nó vẫn còn ở mức cao trong các phôi thai cho sự tổng hợp của purine và thymidylate (O’Neill 1998).

Nghiên cứu lâm sàng

Các tác dụng của axit folic đối với khả năng sinh sản vẫn chưa được nghiên cứu một cách cụ thể, tuy nhiên có một số bằng chứng về tác dụng tích cực của axit folic đối với việc duy trì thai nhi. Axit folic gắn liền với mức homocysteine. Axit folic cung cấp tác dụng bảo vệ, vì hàm lượng homocysteine cao gắn liền với hiện tượng thiếu axit folic. Các mức homocysteine cao có liên quan đến nhiều các bệnh liên quan đến độ tuổi, cũng như các biến chứng khi mang thai, và sẩy thai ở giai đoạn đầu (Nelen, Blom et al. 2000; Steegers-Theunissen, Van Iersel et al. 2004).Một nghiên cứu cho thấy 500mcg axit folic mỗi ngày làm giảm đáng kể nồng độ homocysteine trong huyết tương ở phụ nữ bị xảy thai lặp lại nhiều lần(Nelen, Blom et al. 2000). Có thể cơ chế hoạt động này của axit folic có thể làm tăng khả năng sinh sản, và giúp những trương hợp thai nghén dễ bị xảy thai duy trì dược tới hạn kỳ. [67].

Hai nghiên cứu sử dụng FertilityBlend có chứa 400mcg axit folic đã cho kết quả đáng tốt đối với khả năng sinh sản. Nghiên cứu thứ nhất trong số hai nghiên cứu mù đôi ngẫu nhiên có đối chứng giả dược cho thấy nhóm điều trị sử dụng FertilityBlend có chứa axit folic có số trường hợp mang thai trong hơn 5 tháng điều trị cao hơn đáng kể so với nhóm sử dụng giả dược (5 so với 0, p <0,01). Nghiên cứu bao gồm 30 phụ nữ là những người đã cố gắng không thành công để thụ thai trong vòng 6 tháng hoặc lâu hơn, và đồng thời kết quả cũng cho thấy các nhóm điều trị có xu hướng tăng progesterone giữa kỳ hoàng thể (Westphal, Polan et al. 2004). Một nghiên cứu tiếp theo (Westphal, Polan et al. 2006)với FertilityBlend có sự tham gia của 93 phụ nữ là những người đã cố gắng không thành công để thụ thai trong vòng 6 tháng hoặc lâu hơn, cho thấy FertilityBlend có chứa acid folic tăng thời gian chu kỳ ở phụ nữ có chu kỳ ngắn, và giảm thời gian chu kỳ ở phụ nữ với chu kỳ dài. Một lần nữa, nhóm điều trị có tỷ lệ mang thai tăng đáng kể so với nhóm dùng giả dược (17 so với 4, p <0,01). Không có tác dụng phụ đáng kể nào được phát hiện.

Kết luận: Axit folic là một chất thiết yếu cho các bà mẹ có nguyện vọng mang thai là cơ sở chính để bao gồm axit folic trong thành phần thuốc. Điều này dựa trên một thực tế đã được biết đến rộng rãi là axit folic có tác dụng giảm đáng kể nguy cơ dị tật ống thần kinh, và các trường hợp xảy thai tự nhiên.  Thêm vào đó, có bằng chứng gián tiếp về việc axit folic có thể tăng khả năng sinh sản thông qua cơ chế giảm các mức homocysteine.

Vitamin B6

Vitamin B6, hay còn gọi là pyridoxine, là một vitamin có thể tan trong nước, tham gia vào quá trình chuyển hóa axit amino, và có vai trò quan trọng cho sự phát triển thần kinh.  Điều này có thể là do hoạt tính của Vitamin B trong quá trình tổng hợp các chất truyền dẫn thần kinh như serotonin, noradrenaline, và GABA. Vitamin B6 phải được hấp thụ qua thức ăn vì cơ thể không thể tự tổng hợp được.  Thiếu hụt vitamin B6 có thể dẫn đến viêm da, thiếu máu tế bào nhỏ, co giật, trầm cảm, và nhầm lẫn.

Cơ chế hoạt động

Vitamin B6 có thể hoạt động như một đồng enzyme tham gia vào khoảng 100 các enzyme khác nhau, bao gồm những enzyme tham gia vào chuyển hóa glucoza. Một quá trình quan trọng khác gắn liền với sinh tổng hợp axit nucleic, trong đó vitamin B6 đóng một vai trò quan trọng. Giống như axit folic, vitamin B6 có tác dụng đối với quá trình trao đổi chất của homocysteine. Vitamin B6 xúc tác hai phản ứng làm giảm homocysteine thành cysteine.

Nghiên cứu lâm sàng

Tác dụng của Vitamin B6 đối với khả năng sinh sản vẫn chưa được nghiên cứu đáng kể. Tuy nhiên, người ta đã biết được rằng ở các trường hợp thiếu hụt Vitamin B6, thường xảy ra ở phụ nữ sử dụng thuốc tránh thai đường uống, có thể dẫn đến các vấn đề về hành vi và trí tuệ ở trẻ sơ sinh (Krishna and Ramakrishna 2004). Vitamin B6 là thành phần quan trọng cho hệ thần kinh và sự phát triển của hệ thần kinh của bào thai.

Hai nghiên cứu sử dụng FertilityBlend có chứa 6mg Vitamin B6 đã có kết quả đáng khích lệ đối với khả năng sinh sản. Nghiên cứu thứ nhất trong số hai nghiên cứu mù đôi ngẫu nhiên có đối chứng giả dược cho thấy FertilityBlend có chứa vitamin B6 có số trường hợp mang thai trong hơn 5 tháng điều trị cao hơn đáng kể so với nhóm sử dụng giả dược (5 so với 0, p <0,01). Nghiên cứu bao gồm 30 phụ nữ là những người đã cố gắng không thành công để thụ thai trong vòng 6 tháng hoặc lâu hơn, và đồng thời kết quả cũng cho thấy các nhóm điều trị có xu hướng tăng progesterone giữa kỳ hoàng thể (Westphal, Polan et al. 2004). Một nghiên cứu tiếp theo (Westphal, Polan et al. 2006)với FertilityBlend có sự tham gia của 93 phụ nữ là những người đã cố gắng không thành công để thụ thai trong vòng 6 tháng hoặc lâu hơn, cho thấy FertilityBlend có chứa Vit B6 tăng thời gian chu kỳ ở phụ nữ có chu kỳ ngắn, và giảm thời gian chu kỳ ở phụ nữ với chu kỳ dài. Một lần nữa, nhóm điều trị có tỷ lệ mang thai tăng đáng kể so với nhóm dùng giả dược (17 so với 4, p <0,01). Không có tác dụng phụ đáng kể nào được phát hiện.

Kết luận: Vitamin B6 là một vitamin thiết yếu, đặc biệt là cho sức khỏe hệ thần kinh. Việc bao gồm Vitamin B6 trong thành phần giúp duy trì mức Vitamin B6 trong tất cả các giai đoạn mang thai, bao gồm trước khi thụ thai. Các tác dụng của Vitamin B6 trong việc giảm mức homocysteine rất quan trọng cho khả năng sinh sản và mang thai.

Vitamin B12

Vitamin B12, hay cobalamin, là một vitamin thiết yếu phức tạp tan được trong nước, có chứa ion kim loại cobalt. Thiếu vitamin B12 có thể dẫn đến thiếu máu ác tính, có các triệu chứng thần kinh/ hoặc tâm thần. Hầu hết chế độ ăn uống chứa Vitamin B12 có nguồn gốc từ động vật hoặc sản phẩm từ động vật, do đó người ăn chay cần chủ động tìm các loại rau quả giàu Vitamin B12 hoặc sử dụng Vitamin B12 bổ sung.

Cơ chế hoạt động

Giống như axit folic và vitamin B6, vitamin B12 cũng có vai trò điều tiết các mức homocysteine. Vitamin B12 cần thiết bởi methionine synthase được minh họa dưới đây.

Hình 2: Chuyển hóa homocysteine bởi folate và Vitamin B6 và B12.

Nguồn: LP

Các hoạt động của axit folic và vitamin B12 chuyển hóa homocysteine thành methionine. Vitamin B6 đóng vai trò của một đồng yếu tố hai enzyme quan trọng xúc tác cho phản ứng của homocysteine thành cystathionine và sau đó thành cysteine. Cả hai quá trình chuyển hóa này đều giảm lượng homocysteine.

Vitamin B12 và axit folic đều cần thiết cho sự phân tán huyết cầu tố trong tế bào hồng cầu được diễn ra theo đúng cách. Sự tổng hợp DNA, trong các tế bào hồng cầu phân chia nhanh trong tủy xương, đòi hỏi Vitamin B12 chuyển hóa axit folic thành dạng có thể sử dụng bởi cơ thể bằng phản ứng đã đề cập ở trên.

Nghiên cứu lâm sàng

Trong một nghiên cứu  (Bennett 2001)kiểm tra lịch sử của 14 phụ nữ mắc chứng thiếu Vitamin B12, kết quả cho thấy việc thiếu Vitamin B12 có liên quan đến tỷ lệ cao hơn các trường hợp vô sinh và xảy thai tái phát.  Giả thuyết thiếu vitamin B12 dẫn đến hiện tượng tăng mức homocysteine làm tăng tính đông có thể giải thích những phát hiện hiện tại.

Hai nghiên cứu sử dụng FertilityBlend có chứa 12mcg Vitamin B12 đã có kết quả đáng khích lệ đối với khả năng sinh sản. Nghiên cứu thứ nhất trong số hai nghiên cứu mù đôi ngẫu nhiên có đối chứng giả dược cho thấy trong hơn 5 tháng điều trị, FertilityBlend có chứa vitamin B12 cho kết quả số người mang thai ở nhóm điều trị cao hơn đáng kể so với nhóm sử dụng giả dược (5 đến 0, p <0,01). Nghiên cứu bao gồm 30 phụ nữ là những người đã cố gắng không thành công để thụ thai trong vòng 6 tháng hoặc lâu hơn, và đồng thời kết quả cũng cho thấy nhóm điều trị có xu hướng tăng progesterone giữa kỳ hoàng thể (Westphal, Polan et al. 2004). Một nghiên cứu tiếp theo (Westphal, Polan et al. 2006)với FertilityBlend với sự tham gia của 93 phụ nữ là những người đã cố gắng không thành công để thụ thai trong vòng 6 tháng hoặc lâu hơn, cho thấy FertilityBlend có chứa vitamin B12 tăng thời gian của chu kỳ ở phụ nữ có chu kỳ ngắn, và giảm thời gian của chu kỳ ở phụ nữ với chu kỳ dài. Một lần nữa, có sự gia tăng đáng kể ở tỷ lệ mang thai trong nhóm thử nghiệm so với nhóm dùng giả dược (17 đến 4, p <0,01). Không có tác dụng phụ đáng kể nào được phát hiện.

Kết luận: Vitamin B12 và axit folic nên được sử dụng cùng nhau vì vai trò của chúng trong cơ thể có liên quan chặt chẽ. Tác dụng của Vitamin B12 làm giảm các mức homocysteine và tăng cường dạng hoạt tính của axit folic là thiết yếu cho khả năng sinh sản, và sự phát triển của bào thai.

Kẽm

Kẽm là một khoáng chất kim loại quan trọng cho sức khỏe và dinh dưỡng.  Kẽm có mặt trong hơn 100 enzyme xúc tác cho rất nhiều các quá trình chuyển hóa chất. Kẽm có các vai trò quan trọng trong  sinh sản, tăng trưởng, và phát triển. Thiếu hụt Kẽm có thể dẫn đến chậm lớn, và những khuyết tật trong các mô phân chia nhanh như buồng trứng.

Cơ chế hoạt động

Kẽm quan trọng cho sự ổn định protein và các cấu trúc màng tế bào. Cấu trúc giống ngón tay của kẽm làm ổn định những phân tử lại với nhau. Vắng mặt Kẽm trong màng tế bào sẽ làm tăng nguy cơ bị stress ôxy hóa, và gây suy giảm chức năng (O’Dell 2000).

Quan trọng hơn đối với khả nang mang thai và sinh sản, Kẽm có một vai trò quan trọng điều hòa DNA. Kẽm có thể liên kết với các nhân tố sao mã và ảnh hưởng sự sản xuất mRNA. Hoạt động này của việc điều hòa tế bào được kết hợp với một vai trò trong điều hòa sự giải phóng hoóc môn và truyền dẫn thần kinh. Kẽm cũng liên quan đến việc điều hòa cơ chế chết tế bào theo chương trình (apoptosis), là một quá trình quan trọng trong trong quá trình tổng hợp phôi và phát triển của bào thai (Truong-Tran, Ho et al. 2000).Một phần của hoạt động này là thông qua các tác dụng của kẽm ở matrix metalloproteinases (MMPs). Những enzyme này cũng tham gia vào sự di cư tế bào, phát triển tế bào và tạo hình mô, các chức năng quan trọng trong buồng trứng. Mặc dù mối liên hệ trực tiếp với khả năng sinh sản vẫn chưa được chỉ ra trong những kết quả nghiên cứu này, những hoạt động này của Kẽm có thể cung cấp một cái nhìn sâu sắc vào sự phát triển của noãn bào thứ cấp, phát triển của phôi thai, và những giai đoạn đầu của thai kỳ.

Nghiên cứu lâm sàng

Không hấp thụ đủ Kẽm là hiện tượng xảy ra với khoảng 82% số phụ nữ mang thai, và đã được coi là một vấn đề sức khỏe của cả thế giới. Nghiên cứu này cũng phác thảo hiện tượng tăng số lượng biến chứng khi mang thai với các mức Kẽm thấp như kết quả bất lợi khi mang thai, trọng lượng trẻ sơ sinh thấp, bất thường bẩm sinh, sinh non, và các biến chứng trong quá trình sinh đẻ (Mahomed, Bhutta et al. 2007). Một đánh giá có hệ thống đối với các tác dụng của Kẽm bổ sung khi mang thai trong 17 nghiên cứu ngẫu nhiên có kiểm soát đã kết luận rằng bổ sung Kẽm giúp giảm 14% số trường hợp đẻ non khi mang thai; tỷ lệ đẻ non thấp hơn được phát hiện chủ yếu ở những phụ nữ có thu nhập thấp [73]. Sự quan trọng của Kẽm đối với sự phát triển của hệ thần kinh cũng chứng tỏ sự cần thiết của kẽm khi mang thai(Merialdi, Caulfield et al. 1999).

Hai nghiên cứu sử dụng FertilityBlend có chứa 15mg Kẽm đã có kết quả đáng khích lệ đối với khả năng sinh sản. Nghiên cứu thứ nhất trong số hai nghiên cứu mù đôi ngẫu nhiên có đối chứng giả dược cho thấy FertilityBlend có chứa Kẽm cho kết quả số người mang thai trong hơn 5 tháng điều trị cao hơn đáng kể so với nhóm sử dụng giả dược (5 đến 0, p <0,01). Nghiên cứu bao gồm 30 phụ nữ là những người đã cố gắng không thành công để thụ thai trong vòng 6 tháng hoặc lâu hơn, và đồng thời kết quả cũng cho thấy các nhóm thử nghiệm có xu hướng tăng progesterone giữa kỳ hoàng thể (Westphal, Polan et al. 2004). Một nghiên cứu tiếp theo (Westphal, Polan et al. 2006)với FertilityBlend có sự tham gia của 93 phụ nữ là những người đã cố gắng không thành công để thụ thai trong vòng 6 tháng hoặc lâu hơn, cho thấy FertilityBlend có chứa Kẽm làm tăng thời gian của chu kỳ ở phụ nữ có chu kỳ ngắn, và giảm thời gian của chu kỳ ở phụ nữ với chu kỳ dài. Một lần nữa, có sự gia tăng đáng kể ở tỷ lệ mang thai trong nhóm điều trị so với nhóm dùng giả dược (17 đến 4, p <0,01). Không có tác dụng phụ đáng kể nào được phát hiện.

Kết luận: Tầm quan trọng của Kẽm bổ sung ở giai đoạn trước và trong lúc mang thai đã được chứng minh bởi tỷ lệ quá lớn những phụ nữ mang thai không có đủ mức Kẽm cần thiết. Kẽm tham gia vào nhiều quá trình quan trọng trong vai trò của một đồng yếu tố cho nhiều enzyme, và cũng có nhiều tác dụng trực tiếp đối với biểu hiện gen. Những tác dụng này có thể có những hậu quả nghiêm trọng đối với khả năng sinh sản và giai đoạn đầu mang thai. Kẽm quan trọng đối với khả năng sinh sản và sức khỏe thai kỳ, và do đó cần được bổ sung vào thành phần thuốc.

Tham khảo

Aten, R. F., K. M. Duarte, et al. (1992). “Regulation of ovarian antioxidant vitamins, reduced glutathione, and lipid peroxidation by luteinizing hormone and prostaglandin F2 alpha.” Biol Reprod46(3): 401-407.

Aten, R. F., T. R. Kolodecik, et al. (1994). “Ovarian vitamin E accumulation: evidence for a role of lipoproteins.” Endocrinology135(2): 533-539.

Barrington, J. W., P. Lindsay, et al. (1996). “Selenium deficiency and miscarriage: a possible link?” Br J Obstet Gynaecol103(2): 130-132.

Barrington, J. W., M. Taylor, et al. (1997). “Selenium and recurrent miscarriage.” J Obstet Gynaecol17(2): 199-200.

Basini, G. And C. Tamanini (2000). “Selenium stimulates estradiol production in bovine granulosa cells: possible involvement of nitric oxide.” Domest Anim Endocrinol18(1): 1-17.

Bennett, M. (2001). “Vitamin B12 deficiency, infertility and recurrent fetal loss.” J Reprod Med46(3): 209-212.

Bergmann, J., B. Luft, et al. (2000). “[The efficacy of the complex medication Phyto-Hypophyson L in female, hormone-related sterility. A randomized, placebo-controlled clinical double-blind study].” Forsch Komplementarmed Klass Naturheilkd7(4): 190-199.

Blumenthal, M. (2000). Commission E. Herbal Medicine: Expanded Commission E Monographs, German Federal Institute for Drugs and Medical Devices.

Bone, K. (1994). “Professional Review: Vitex Agnus Castus Part 1.” mediherb42(Oct): 1-3.

Bubenzer, R. H. (1993). “Therapy with Agnus castus extract (Strotan®).” Therapiewoche43(32-3): 1705-1706.

Byrd, J. A., S. L. Pardue, et al. (1993). “Effect of ascorbate on luteinizing hormone stimulated progesterone biosynthesis in chicken granulosa cells in vitro.” Comp Biochem Physiol Comp Physiol104(2): 279-281.

Caan, B., C. P. Quesenberry, Jr., et al. (1998). “Differences in fertility associated with caffeinated beverage consumption.” Am J Public Health88(2): 270-274.

Chinoy, N. J. (1972). “Ascorbic acid levels in mammalian tissues and its metabolic significance.” Comp Biochem Physiol A Comp Physiol42(4): 945-952.

Cigliano, L., M. Balestrieri, et al. (2002). “Lecithin-cholesterol acyltransferase activity during maturation of human preovulatory follicles with different concentrations of ascorbate, alpha-tocopherol and nitrotyrosine.” Reprod Fertil Dev14(1-2): 15-21.

Das, P. And M. Chowdhury (1999). “Vitamin E-deficiency induced changes in ovary and uterus.” Mol Cell Biochem198(1-2): 151-156.

Eipper, B. A. And R. E. Mains (1991). “The role of ascorbate in the biosynthesis of neuroendocrine peptides.” Am J Clin Nutr54(6 Suppl): 1153S-1156S.

Erba, D., P. Riso, et al. (2005). “Effectiveness of moderate green tea consumption on antioxidative status and plasma lipid profile in humans.” J Nutr Biochem16(3): 144-149.

Gerhard, I. I., A. Patek, et al. (1998). “Mastodynon(R) bei weiblicher Sterilitat.” Forsch Komplementarmed5(6): 272-278.

Gorkow, C., W. Wuttke, et al. (2002). “[Effectiveness of Vitex agnus-castus preparations].” Wien Med Wochenschr152(15-16): 364-372.

Haas, E., Ed. (1992). Staying Healthy with Nutrition. Berkeley, CA, Celestial Arts.

Henmi, H., T. Endo, et al. (2003). “Effects of ascorbic acid supplementation on serum progesterone levels in patients with a luteal phase defect.” Fertil Steril80(2): 459-461.

Igarashi, M. (1977). “Augmentative effect of ascorbic acid upon induction of human ovulation in clomiphene-ineffective anovulatory women.” Int J Fertil22(3): 168-173.

Jarry, H., S. Leonhardt, et al. (1994). “In vitro prolactin but not LH and FSH release is inhibited by compounds in extracts of Agnus castus: direct evidence for a dopaminergic principle by the dopamine receptor assay.” Exp Clin Endocrinol102(6): 448-454.

Jishage, K., M. Arita, et al. (2001). “Alpha-tocopherol transfer protein is important for the normal development of placental labyrinthine trophoblasts in mice.” J Biol Chem276(3): 1669-1672.

Khalsa, K. (1999). “Spotlight on green tea extract.” Neutraceuticals WorldJuly/August.

Krishna, A. P. And T. Ramakrishna (2004). “Effect of pyridoxine deficiency on the structural and functional development of hippocampus.” Indian J Physiol Pharmacol48(3): 304-310.

Leenen, R., A. J. Roodenburg, et al. (2000). “A single dose of tea with or without milk increases plasma antioxidant activity in humans.” Eur J Clin Nutr54(1): 87-92.

Liu, J., J. E. Burdette, et al. (2001). “Evaluation of estrogenic activity of plant extracts for the potential treatment of menopausal symptoms.” J Agric Food Chem49(5): 2472-2479.

Loh, H. S. And C. W. Wilson (1971). “Relationship of human ascorbic-acid metabolism to ovulation.” Lancet1(7690): 110-112.

London, R. S., L. Murphy, et al. (1987). “Efficacy of alpha-tocopherol in the treatment of the premenstrual syndrome.” J Reprod Med32(6): 400-404.

Luck, M. R. And Y. Zhao (1993). “Identification and measurement of collagen in the bovine corpus luteum and its relationship with ascorbic acid and tissue development.” J Reprod Fertil99(2): 647-652.

Mahomed, K., Z. Bhutta, et al. (2007). “Zinc supplementation for improving pregnancy and infant outcome.” Cochrane Database Syst Rev(2): CD000230.

Merialdi, M., L. E. Caulfield, et al. (1999). “Adding zinc to prenatal iron and folate tablets improves fetal neurobehavioral development.” Am J Obstet Gynecol180(2 Pt 1): 483-490.

Miesel, R., P. J. Drzejczak, et al. (1993). “Oxidative stress during the interaction of gametes.” Biol Reprod49(5): 918-923.

Milewicz, A., E. Gejdel, et al. (1993). “[Vitex agnus castus extract in the treatment of luteal phase defects due to latent hyperprolactinemia. Results of a randomized placebo-controlled double-blind study].” Arzneimittelforschung43(7): 752-756.

Millar, J. (1992). “Vitamin C–the primate fertility factor?” Med Hypotheses38(4): 292-295.

Nelen, W. L., H. J. Blom, et al. (2000). “Hyperhomocysteinemia and recurrent early pregnancy loss: a meta-analysis.” Fertil Steril74(6): 1196-1199.

O’Dell, B. L. (2000). “Role of zinc in plasma membrane function.” J Nutr130(5S Suppl): 1432S-1436S.

O’Neill, C. (1998). “Endogenous folic acid is essential for normal development of preimplantation embryos.” Hum Reprod13(5): 1312-1316.

Paszkowski, T., A. I. Traub, et al. (1995). “Selenium dependent glutathione peroxidase activity in human follicular fluid.” Clin Chim Acta236(2): 173-180.

Pinnell, S. R. (1985). “Regulation of collagen biosynthesis by ascorbic acid: a review.” Yale J Biol Med58(6): 553-559.

Propping D, K. T., Belkien L (1988). “Diagnostik und therapie der gelbkorperschwache in der praxis.” Therapiewoche38: 2992-3001.

Rayman, M. P. (2000). “The importance of selenium to human health.” Lancet356(9225): 233-241.

Ruder, E. H., T. J. Hartman, et al. (2008). “Oxidative stress and antioxidants: exposure and impact on female fertility.” Hum Reprod Update14(4): 345-357.

Schellenberg, R. (2001). “Treatment for the premenstrual syndrome with agnus castus fruit extract: prospective, randomised, placebo controlled study.” BMJ322(7279): 134-137.

Schilcher, H. (1994). “Phytotherapy and Classical Medicine.” Herbs, Spices, and Medicinal Plants2: 71-80.

Sebrell, W., Harris RS., Ed. (1967). The Vitamins, Chemistry, Physiology, Pathology and Methods. New York, Academic Press.

Serafini, M., A. Ghiselli, et al. (1996). “In vivo antioxidant effect of green and black tea in man.” Eur J Clin Nutr50(1): 28-32.

Standard, N. (2009). Monograph: Chasteberry (Vitex agnus-castus). Natural Standard.

Steegers-Theunissen, R. P., C. A. Van Iersel, et al. (2004). “Hyperhomocysteinemia, pregnancy complications, and the timing of investigation.” Obstet Gynecol104(2): 336-343.

Szymanski, W. And A. Kazdepka-Zieminska (2003). “[Effect of homocysteine concentration in follicular fluid on a degree of oocyte maturity].” Ginekol Pol74(10): 1392-1396.

Tarin, J. J., S. Perez-Albala, et al. (2002). “Oral antioxidants counteract the negative effects of female aging on oocyte quantity and quality in the mouse.” Mol Reprod Dev61(3): 385-397.

Truong-Tran, A. Q., L. H. Ho, et al. (2000). “Cellular zinc fluxes and the regulation of apoptosis/gene-directed cell death.” J Nutr130(5S Suppl): 1459S-1466S.

Westphal, L. M., M. L. Polan, et al. (2006). “Double-blind, placebo-controlled study of Fertilityblend: a nutritional supplement for improving fertility in women.” Clin Exp Obstet Gynecol33(4): 205-208.

Westphal, L. M., M. L. Polan, et al. (2004). “A nutritional supplement for improving fertility in women: a pilot study.” J Reprod Med49(4): 289-293.

Wuttke, W. (1996). “Dopaminergic action of extracts of Agnus Castus.” Forschende Komplementarmedizen3: 329-330.

Ziaei, S., M. Zakeri, et al. (2005). “A randomised controlled trial of vitamin E in the treatment of primary dysmenorrhoea.” BJOG112(4): 466-469.